Thứ Năm, 8 tháng 8, 2024

Lịch sử hình thành và phát triển

 ba viết lịch sử hình thành vào đây

Lời phi lộ

 Bản thân tôi, lúc nhỏ lo vui chơi học hành, lớn lên thì lo công ăn việc làm và dạy dỗ con cháu. Thấp thoáng tuổi đã xế chiều, nghĩ đến dòng tộc thi không có tài liệu để tham khảo để biết rõ cội nguồn!

Nhân dịp được tiếp cận với Tộc Phổ và xem lại các cuốn Hoàng Lê Nhất thống chí, Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), Gần 400 năm vua chúa triều Nguyễn (Lường Kim Thành), tôi vận dụng tư duy đối chiếu các mốc thời gian của quá trình lịch sử để suy đoán sự lập làng lập họ cùa Tổ Tiên, viết ra tập này để lại cho con cháu biết về dòng họ ta.

Tôi thành thật cám ơn các vị đã động viên và góp ý một cách chân tình, nhất là bác cựu Tộc trường Lê Quý Dung và bác sĩ học giả Lê Quý Ngưu.

Lê Bá Lại

 

Trường ca Thủy Dương – CÁI NÔI MẸ GIÀ – Nguyên Thông 2015 – Lê Trọng Côi

 THỦY DƯƠNG CÁI NÔI MẸ GIÀ

Mẹ ơi

Con thấy cái nôi.
Là con nhớ mẹ.
Là tôi nhớ mình.

Một đời mẹ đã làm thinh.
Chữ sinh lủng lẳng.
Chữ tình đong đưa.
Chữ quê mẹ gói trong mưa.
Chữ làng phơi nắng,
sáng trưa vỗ về.
Bên ni con vọng bên tê.
Mẹ già ra thế
bốn bề mênh mông.
Bùn quê mẹ lội chân không.
Đất quê mẹ cũng
chân trần mà thôi.
Mất mẹ con đã mồ côi.
Thủy Dương bùn đất
cái nôi mẹ già.

Đêm nằm nghe mưa .
Chợt nhớ quê nhà mùa đông run rẩy .
Đêm ngồi đợi sáng .
Ý từ chạng vạng .
Lời vào bình minh .
Chút ân tình chênh vênh xa lắc .
Đôi mắt hoe vàng.
Chút ấy chơi vơi .

Ơi Thủy Dương
Chốn nào tôi thương ?
Nơi nào tôi nhớ ?
Trang vở học trò ,
Ngòi bút lá tre .
Ve mực đỏ dành dành
Chén mồng tơi tim tím .
Tàu lá chuối non hoa bướm tuổi thơ .

Nhớ xưa
xưa tự bao giờ?
Đường quê ngõ quán ,
Bến bờ nhớ xưa .
Nón cời mẹ hứng nắng trưa .
Áo tơi cha đắp cơn mưa Bầu Choàng .

Câu hò chín chặn hò khoan .
Ai đi đường bến ?
Đường quan ai về ?
Trai Thanh Thủy ,
Gái Dạ Lê ,
Tình duyên đành lỡ
lời thề còn không ?

Đầy vơi cùng gió Lợi Nông .
Trẻ con mấy đứa cầu sông trưa hè .
Tuổi thơ là tuổi ve ve .
Cầm tinh con bướm , lũy tre , cánh diều .
Thương quê thương đun rơm xiêu .
Yêu làng yêu khói lam chiều như mây .
Làng quê giờ khói không bay .
Đụm rơm không có , it cây lắm nhà .

Nhà xưa , ngõ có chân chim .
Chợ xưa, bóng mát lặng im bông đồng .
Cây bông đồng không nên ngày cổ thụ .
Trái rụng nơi nào ?
ơi những bánh xe .
Chừng nghe như gió giao mùa .
Trần gian tụ tán , bán mua , nổi chìm .
Cây chân chim đã hóa thân gỗ mục .
Bọ củi quay quần , gõ khúc nhân sinh .
Mồ côi tôi một chút tình .
Đường xưa lối cũ , có mình , nắng mưa .
Xóm lò sáo dựng dậu thưa .
Rào trên gọng rớ đong đưa mây trời .
Dương Phẩm trắng sắn ai phơi .
Xuân chánh , Thanh Dạ đầy vơi ân tình .
Thôn ba có trường có đình .
Thôn hai có chợ âm linh Cồn mồ .

Tìm con tiên tiến đi vô .
Bắt con châu chấu quanh hồ đi ra .
Miếng câu bỏm bẻm ơi bà...
Dù che , gậy chống , vậy là ơi ông .
Sông làng là sông Lợi Nông .
Động Sầm là động cay nồng mùi hương .
Sương rơi động Chùa .
Gió lùa động Giữa .
Chan chứa ân tình .
Cây lá xôn xao .
Chổ mô Cốn Cao .
Nơi nào Cống Bạc .
Con dốc Phù Cát .
Cầu Vượt mới xây .
Men nồng say tỉnh tỉnh say .
Qua cầu vọng cốn của ngày xa xưa .
Thủy Dương người đến hay chưa ?
Đến rồi chừng đã vui trưa đình làng ,
Sen vàng vàng đậm nắng vàng .
Lúa xanh xanh thắm mấy hàng tre xanh .
Công tạo tác
Nghĩa sinh thành
Mồ hôi xối trắng
Nương canh đoạn trường .

Oi Thủy Dương
Nơi nào chua ngọt .
Thương đời mẹ nghèo
Gánh tót ,
Cọng rơm .
Mùa lúa chiêm thơm ,
Hạt cơm gạo đỏ .
Đêm trăng lối ngõ ,
Đứa trốn ,
Đứa tìm .

Sim tím thì gói mo cau .
Trái muồng , trái mót đựng bầu thương con .

Cây mía vào đêm tròn trăng khó nổi .
Cây ổi không gió tối lại lung lây .
Muối mặn ớt cay , bày ra mấy đứa .
Đứa cóc , đứa mận., đứa đứng , đứa ngồi .
Ngái cào tự trái mâm xôi .
Quà quạ đen nhẽm tròn môi nụ cười .

Tháng mười soi đèn , vớt bày tép ruốc .
Con chim Chàng Làng đốt đuốc giêng hai .
Vui khi hoái cạn quăng chài .
Sông sâu buông lưới , chợ Mai cá về .

Nước cạn rê cái dũi , dụi cái chơm .
Nước lên đặt cái nơm , đơm cái rớ .
A ,b duyên nợ
I tờ vấn vương
Trường ngói .
Trường tranh .
Trường Thanh Thủy Thượng ,
Sân trên cát trắng , mái dưới bìm leo .
Cái om treo ,
Om nào om quà ,
Om nào om cát .
Tre pheo quờ quạng mấy phát ơi om .
Xe đạp khòm lưng ,khó khi đi chậm .
Gốc chổi độn cao , ấm dạo lập đông .
Khua chèo cho ghe qua sông ,
Cắm sào , neo nốt , Lợi Nông chờ mùa .

Tháng hai hội lạp .
Tháng bảy lễ chùa .
Tháng tám đốt đuốt
Vui đùa cùng trăng .

Hòn đá cuội đánh bóng .
Khúc tre dáo làm căn .
Viên bi đất lăn , hai đầu hai lỗ .
Hai bên hai phe ,theo số dựt cờ .
Chi chi thấy mà làm ngơ .
Cùng vui từ dạo , ấu thơ Chành Chành .
Lăn vành hết ngược , lại xuôi .
Mẹ tìm cái rổ , gặp con chơi vành .

Sấp ngửa nắp keng , anh em ta đánh .
Quân nào bị gánh ? quân nào bị vây ?
Hột xoài nên cái cối xay .
Diêm sinh thay pháo , dập tay mà cười .

Người người vào hội ,
Vịt lội hồ làng ,
Vang vang trống giục .
Cục đất nặn Bụt thì thiêng ,
Quăng hồ , thả hệ hóa bùn hết thiêng .
Dất quê là đất ân tình .
Rằng bùn hay Bụt cũng mình mà ra .

Con trăng tòn khuyết hay tà
Trăng trời chỉ một lại già với non .

Lom khom đâu bến mô khe .
Khi giặt , lúc rửa
Ban bè còn ai ?
Chợ chiều sao gọi là mai ?
Gầu mo con nít gái trai ở truồng .
Xót trăm nhớ van vọng muôn .
Thơ ta bồng bế nỗi buồn của ta .

Quê làng ơi
Quê làng xa
Dưa chuối ơn mẹ
Ơn cha chổi cùn
Thương là thương thun dài mấy sợi .
Trống không bàn tay vẫn thấy dây thun .
Nhớ là nhớ bóng hình mấy tấm .
Gần tán xa chuồi
Hình bóng nay đâu ?

Tập lặn
Hít sâu dài hơi
Tập bơi
Bắt con chuồn chuồn cắn rốn .
Năm mười , mười lăm .
Xưa tôi không trốn .
Nay lại đi tìm .
Tôi đi tìm tôi ân tình chìm nổi .
Nơi nào bóng lăn mỏi gối
Nơi nà ú mọi hụt hơi
Giờ chơi con gái nhảy dây .
Con trai đá kiện ở đây sân trường .

Vuốt bụng nhớ cái liềm cùn .
Đâu bà mụ vườn cắt rún sơ sinh .
Sờ đầu thương tóc để chỏm
Có còn không cái lưỡi dao cau .

Đói ăn rau
Một đời mẹ nghèo .
Rau đền xanh đỏ
Ngọn cỏ tai heo

Đau uống thuốc
Tép tỏi củ hành
Phòng khi trái gió .
Lá chanh đọt ổi
Tội buổi trở trời .
Oi miếng mẻ chai
Ai ngày chích lễ .
Ho hen thì nhai củ nghệ .
Cảm mạo ăn cháo đậu xanh .
Sanh con cha mẹ cậy nhờ
Khôn thiêng ông Mốc bến bờ khôn thiêng .

Cơ rô buồn vui nghiêng ngửa mấy lá ?
Con ba con bảy giấy rách mấy tờ?
Pháo mã mấy quân
Quân nào cờ chồng ?
Quân nào cờ tướng ?
Lóc cóc sĩ tượng thượng hạ cờ oai .

Vui chung một củ khoai hà .
Môn khai , sắn sượng vậy mà cũng vui .

Đi xuống đường bến .
Đi lên đường quan .
Tới lui dường kiệt .
mấy nhà mấy ngõ ?
Giữa là đường chẹt
lối đó cho trâu .

Câu con cá trầu tìm con nhái bén .
Câu con cá bống mồi lê giữa dòng .
Câu con cá rô , cá ngạnh cần con trùn , con nhện .
Cấn , mại quanh bến dọc bờ .
Đâu con cá cờ bắt mỏ xòe đuôi .

Vớt rong nuôi heo .
Vớt bèo nuôi vịt
Nuôi con gà cồ .
Đá con gà kiến .
Con gà trống thiến .
Nhà giầu mới nuôi .

Giếng sâu gầu đứt cậy sào .
Tơ hồng giăng ở bờ rào gở ra
Cùng nhà mà khó gặp nhau .
Trai đi làm rễ là trầu chưa vôi ,
Một mai mình về bên tôi .
Trong ngoài nặng nhẹ đâu rồi ơi dâu .

Mò hến phải mò nước sâu
Gọi gà tục tục .

Dẫn trâu tắc rì .
Làm chuột ta phải lột bì .
Làm êch , làm nhái ta thì lột da .

Vào nhà
Tìm con rắn rồng .
Ra đồng
Bắt con rắn nước .
Vui con ong ruồi .
Nghịch con ong rú .
Ong ngựa thì sợ .
Vò vẻ phải run .

Chó đên gọi là chó mực .
Mèo đen sao lại gọi là mèo mun ?

Nhớ quê
Nhớ vết bùn đen .
Nhớ đôm dốm đỏ .
Nhớ đêm đèn dầu

Mời trầu
Mời mẹ mặn vôi
Mời cha bớt nhún
Mời bà thêm cau .

Tranh nhau
Đòng đánh xù xì
Còn hai
Ta oánh tù tì hơn thua .

Ân tình ai bán mà mua .
Thương nhau cứ thế vui đùa cùng nhau .
Lá tràu chung với miếng cau .
Vôi nồng trộn lại ra màu đỏ tươi .
Chồng cày tộc vợ ban chười
Tháng giêng đám cưới .
Tháng mười có con .

Cắt tranh mẹ ơi lên non .
Bứt tót ngoài miệng gót mòn gieo neo .
Lá cồn nhai với trái keo .
Tuổi thơ ngọt lịm tuy nghèo mà vui .
Nhớ quê nhớ cá nướng trui .
Nhớ bột lộn khuấy .
Nhớ mùi nấm rơm .
Bạn bè chia trái thị thơm .
Anh em chung một miếng cơm chấy vàng .

Nhớ hội trại
Nhớ lẽ làng
Nước đục nhớ hoái .
Nước vàng nhớ khe .
Nhớ chiều thứ bốn cầu tre .
Trái sàu đâu đắng .
Rào chè tàu xanh .
Nhớ mưa bụi .
Nhớ nắng hanh .
Trở trời nhớ đoại bánh canh mụ Ruồi .
Nhớ ngày dưới ngược trên xuôi .
Cùng đi diệt chuột nôp đuôi lệ làng .
Nhớ lắm như thiếp nhớ chàng .
Đêm chung bao bố đông tàn còn co .

Bướm khô trang vở học trò .
Gái nhảy cò cò trai ướp bướm khô .

Cô Dụ thước sắt bàn tay tím bầm .
Thầy Hoàng xơ mít đầu gối thâm đỏ .

Sân cỏ họ Ngô
Trái bưởi mềm dưới nắng chang chang .
Trên con đường làng
Dây thun , chạng ná .
Súng lồ ô ,
Đạn bời lời .
Ấp bốn , ấp ba
Thôn hai , thôn một .
Quê nhà Thủy Dương .

Đã vấn thì vươn
Ông Chắt khép xay .
Mụ Mày bán cá .

Câu ca ân tình , lớp làng bùi ngọt .
Chim hót Độn Sầm , giờ ra chơi chạy vội ,
Cốn Cao lội bùn , xâu cá bắt hôi .
Tắt Kè bôi vôi , gút thắt thòng lọng

Ôc hút lá sả , sướt mắc gai chanh .
Cây mía lau chia đôi , gốc ngọn tranh nhau .
Con cá trầu bốc thăm , ngắn dài cọng cỏ

Trần truồng nắng gió Lợi Nông .
Bèo trôi lơ lững đồng làng là đây .
Bến nớ trâu cầy ,
Bên này nghé ọ .
Ngõ tót đường rơm ,thảo thơm mùa vụ .
Củ khoai hà mùi trú ngún thương nhau .
Bạn bè mấy đứa mi tau ,
Lớn lên mấy đứa cơi trầu nên duyên .

Cùng hội
Cùng thyền
Cùng vui chuyện cũ .

Cái vụ quay tròn .
Cái lon nghiêng ngửa .
Cái vụ quay tròn .
Cái lon nghiêng ngửa .
Gái trai mấy đứa ?
Đứa thì nhảy dây .
Đứa thẻ nẻ tay
Bên này kéo co .
Cò cò bên nớ .
Tuổi thơ chín mộng mười mơ .
Thương từ xưa ấy bây giờ còn thương .

Thủy Dương
Đường xa là rừng .
Nào gần mô rú .
Trái rừng không dú .
Trái rú cũng không .
Cau xanh là đạo vợ chồng .
Hít hà trái ớt .
Nồng nàn trái chi?
Chua lè ơi trái chù ki .
Trái tang chín đỏ .
Bắn bi trái cà .
Đen thui là trái chà là .
Chín vàng dứa dại .
Chín đà mận quân .
Đang xuân có trái thù lù .
Vào đông lạnh trái mù u trên đường .

Hạt bắp nóng hổi .
Cùng thổi cùng nhai .
Miếng môn khai lưỡi nhè nhăn nhẵn .
Mưa nương trong mít nái .
Nắng bãi ngoài dưa gang .

Ô năm
Làng lại tính mười .
Tay bốc tay rải
Miệng cười trẻ thơ .
Bao giờ rồng rắn lên mây .
Mỗi dây ba khúc .
Đây không cắt đầu ,
Thì đó chặt đuôi .

Sinh ly
Đứa ngược
Đứa xuôi .
Tử biệt
Mấy đứa
Đầu đuôi nơi nào ?
Hồ làng nước vẫn lao xao .
Nghiệp duyên duyên nghiệp
Nơi nào nhớ không ?

Bốc lú xòe tay hạt sen còn ấm .
Thơm nồng hương làng thấm thấu thịt da .
Mấy bận sân trường bài ca gọi lửa .
Mấy buổi lụn vè ghe nốt bến quan .
Câu hò nhặt khoan chày khuya nhịp lỡ .
Lời ru duyên nợ trăn trở tao nôi .

Dưới nớ Dạ lê .
Côi tê An Cựu .
Quê hương quanh quẩn bốn bề .
Cội nguồn trăm trước tìm về ngàn sau .
Cọ già đâu có áo tơi ?
Cọ non mô chiếc nón cời nơi mô ?

Trẻ con mấy đứa ?
Đứa bến hoái .
Đứa bờ hồ .
Ngói vụn sành vở thấp cao đỏng đảnh .
Đứa nào cánh tuột chỉ dây gai .
Đứa quần đùi sợi chìu buột bụng .

Lửa đỏ Đình Môn mâm cúng cô hồn .
Miếu thờ ông Mốc vắt xôi cầu tự .
Dăm chữ rưng rưng .
Đâu lá ngái thơm .
Mô kẹo gừng ngọt .

Đêm hè giếng trường giọt nước mo cau ,
Ngày xuân đường quê đồng tiền mừng tuổi .
Tháng tám  chị Hằng mười sáu thằng cuội .
Buổi nào nước lên .
Con thuyền giấy  bồng bềnh nào ai chèo chống .
Giờ thì ơi thuyền theo nước về mô .

Thằng rốn lồi .
Thằng óc dô .
Thằng lùn .
Thằng lé .
Thằng mô mất còn .

Buổi nào gió nổi
Con diều bay
Giữa trời lồng lộng .
Giờ thì ơi diều .
Bóng xế đường non .
Con đen , con sún mấy con ?
Thò lò ,
Ti hí ,
Khuyết tròn ôi nay .

Tuổi mười bảy còn nhay vú mẹ .
Thịt da người mặn chát mồ hôi .
Giờ ngồi mà nhớ .

Quê làng hai hệ một hồ .
Nay ai lấp hệ ?
Để hồ ngẩn ngơ .
Hồ làng sen ngát ý thơ .
Hệ làng nước đục .
Quanh hồ rong rêu .
Hệ để dìm nốt dầm ghe .
Để ngâm nuột lạc ,cây tre làm nhà .

Cái chơi khi tuổi chớm già .
Đi vào con rún ,
Đi ra con ầm .
Bài tới vào tháng mưa dầm .
Cái quan sân bải tết âm bài chòi .

Bắt ốc bắt nhái ngoài đồng .
Bắt chim không rẩy thì rừng ở trong .
Quê mình không có con còng .
Vào mùa cây lúa trổ đòng bắt đam .
Nhà giầu trồng quýt , trồng cam .
Nhà nghèo trồng chuối trồng tram , trồng rau .
Nhà giầu trước có bình phong .
Nhà nghèo cứ thế nhìn trong ra ngoài .
Xuân phân tó bớt giêng hai .
Lập đông rét đậm , tháng mười ổ rơm .
Quê xưa lắm cảnh cơ hàn .
Vậy mà ấm áp tình làng nghĩa quê .

Đói ăn :
Vào rừng củ sắn củ sim .
Hết mùa sim sắn choài moài ợ chua .
Ra đồng khi cá lúc cua .
Cá cua không có bứt đòng mà nhai .

Khát uống :
Ngọt om bướm bạc trưa hè .
Nồi lá vằn đắng ấm chè thì say .

Ngày nay nuôi chó làm sang .
Xưa kia con vện con vàng vệ sinh .
Con chó có nghĩa có tình .
Thịt chó cố cụ quê mình mấy ai .
Giờ thì bạc táng vàng phai .
Chữ tiền cùng với chữ tài đoài đông .

Vàng hoa vạn thọ .
Đỏ bông mồng gà .
Sân nhà vàng đỏ
Hỏi có còn không ?

Hoái làng không chuôm không đìa ,
Con hến không có .
Con tìa cũng không .

Sông quê ai tắm ai chơi .
Tuổi thơ không đụt , không chơi quá buồn .
Ơi con châu chấu chuồn chuồn .
Quê làng ra thế , có buồn như tôi .
Bèo buồn bèo lững lờ trôi .
Tôi buồn tôi đứng cùng tôi một mình .

Còn không
Vị thuốc là cỏ , là cây .
Bánh canh thịt vịt là ngày mồng năm .
Không còn cái sân là cươi .
Con trâu đạp lúa , con người xảy rơm .

Không còn
Hình nộm lung lay .
Đồng quê vắng bóng chim bay phương nào .
Rộn ràng ơi bày bồ chao .
Chích chòe , se sẻ , vì sao cảnh này .

Đồng hết nộm rơm .
Chợ đầy nộm giấy .
Nộm kia giử mạ .
Nộm này là tro .

Dại khôn lấy thước mà đo .
Trăm năm đô hộ bày trò âm dương .

Thủy Dương
Cái bội cắt cỏ nơi mô .
Đôi gióng cái tạc ô hô không còn .
Không còn
Cái dần , cái rế , cái sàng
Cái tẹt , cái mũng tình tang nơi nào .
Cái dùi chừng trôi nơi nào .
Cối chày để ở nơi nào còn không ?
Cái vại , cái tách đong đưa .
Cái nào đựng gạo .
Đựng dưa cái nào .
Còn không ơi cái bồ cào .
Đòn xóc , mỏ xảy nơi nào còn không ?

Còn không bắt đĩa bôi vôi .
Đuổi ong hun khói .
Thuyền giấy trôi bôi xà phòng .

Không còn
Hoàng hôn nốt bến ghe bờ .
Lúa rơm xóc gánh ngẩn ngơ không còn .

Không còn cái cửa là bồng .
Mái sau là chái ,ngái nồng mùi rơm .
Un trấu giử lửa lửa thơm .
Nồi đất mà đậy đoại cơm không còn .

Con cò , con vạc , con nông .
Giờ cò con ít , vạc nông không còn .
Chiều vàng mắc võng ru con .
Nay thì ơi võng có còn đu đưa .
Tìm ra cái phạn hay chưa ?
Dường mương bờ bụi sau xưa quên rồi .
Ôi thôi đi cấy mặc côi .
Đừng mua tre nửa đan nôi ai nằm ?
Quê mình nào có nuôi tằm .
Mấy người đan nón biết chằm là bao .
Lưởi hái dấu ở ruộng cao .
Máy gặt nó cuốn làm sao bay giờ .

Còn không ?
Xới cơm đũa bếp đáy nồi .
Thành cây khều lửa cháy rồi còn đâu .
Chạt ràng dùng xỏ mũi trâu .
Cái mọn bịt mõm từ lâu không còn .

Không còn
Ngồi giặc sáng bến người đông .
Chiều đi gánh nước giếng không thiếu người .
Bây giờ
Bến dáng đười ươi .
Giếng thì đầy nước
Tiếng cười lại khô .

Về làng ngang ngõ họ Ngô .
Ngẫn ngơ trái bóng nơi mô bây giờ .
Suối khe không còn cá cờ .
Mặt mày lọ nghẹ bây giờ còn không ?

Còn không
Ở cử uống nước lá vằng
Ngã ba rỗ bán phong long không còn .
Không còn vọng tiếng năm mười .
Không còn tiếng trẻ vui cười ngoài sông .

Con nước không biết sâu nông .
Trú rơm không đốt bềnh bồng khói đâu ?
Trời bày chi cảnh bể dâu .
Câu hò xưa trước xưa sau không còn .
Không còn
Đạt ba vào nước dạp xe .
Đạt bảy gầu chống bờ be nước đầy
Tìm đâu ra cái lưỡi cày .
Cái bừa , cái tộc cái ngày xa xưa .
Ngày về ghe đón nốt đưa .
Giờ thì ghe nốt nắng mưa đổi đời .
Còn ai đội chiếc nón cời ?
Ai nằm giữa ruộng nhìn trời đếm sao .
Ai vô bứt chủi độn cao ?
Bắt tôm dủi tép ngoài rào còn ai .
Sông hồ đâu gái mô trai ?
Qua canh gà gáy đêm dài cũng vơi .
Còn ai mặc chiếc áo tơi .
Con cúi đỏ lửa mưa rơi lăng bà .
Chín hầm ai buổi chiều tà .
Gánh củi vai nặng dép dầ đứt quai .
Nêm ruốc nhớ vớt con toai .
Ăn mắm phải gắp con giòi bỏ đi .

Rằng răn rứa hỏi chi ri .
Quê nhà ra thế cũng vì nắng mưa .

Ngày xưa
Con lươn , con cá khe vàng .
Thương thì cả xóm chung làng vàng khe .
Nay thì
Về làng vẫn thấy lũy tre .
Vẫn nghe trong gió tiếng ve gọi mùa .
Làng mình lắm miểu nhiều chùa .
Mà sao sân hận hơn thua cũng nhiều .

Quê nhà là ái là ân .
Thế gian là cảnh phù vân đổi đời .
Còn không
Tiếng mẹ ru hời .
Nôi đưa kẻo kẹt . Nay thời còn không ?

Còn không
Lu nước mái sau .
Tỉn mắm cạnh bếp .
Rá rau đầu hồi .
Không còn
Cái ông bình vôi .
Ống nhổ
Cối xoáy ,
Đâu rồi còn không ?

Chập tầm vông tay không tay có .
Trước đây thì có .
Bây giờ thì không .

Buỗm xưa nọ gió Lợi Nông
Nay đành hiu hắt con sông không buồm .
Cội nguồn ngàn mối tình sâu .
Đa đoan duyên nghiệp nơi đâu cội nguồn .

Miếu Mốc thôn bốn
Bụi tre bóng mát bạc trắng màu mây .
Đền đồng thôn hai
Hàng rào dành dành đành xanh lá mạ .
Những nhà thờ tộc thâm nghiêm
Đã hóa đỏ vàng
Quanh con đường làng
Biết tìm mô trò chơi cũ kỹ .

Dây bí dàn bầu
Đầu ngõ chừ mô ?
Thương khi hoái cạn .
Nhớ buổi giếng khô .
Nhớ thương  .
Thương nhớ .
Nơi mô quê nhà .
Cơ sinh diệt .
Gần xa chìm nổi .
Nghĩa tồn vong .
Hết đổi
Lại dời .
Chơi vơi lúa vẫn ngậm đòng .
Thủy chung sen vẫn trắng vàng đơm bông .
Ngày nào
Gạo de An Cựu tiến cung .
Ngon cơm lụy cá rô đồng Thủy Dương .
Cá bầu choàng đượm mùi hương .
Miếng ăn cửa Cấm gió sương dân mình .

Sao là hội nhập .
Thế nào văn minh ?
Ân vây oán trả duyên tình cù cưa .
Cồn mồ mộ chí ngày xưa .
Nay là xưởng dệt sáng trưa rộn ràng .

Hiệu ứng hóa học .
Đất mẹ cưu mang .
Ngầm con nước độc ơi làng làm sao .?
Đi ra đi vào .
Đi vô độn cao .
Quê hương chới với .
Nơi nào quê hương ?

Cọng rau muống Thủy Dương .
Ngày xưa người đời vồn vã .
Giờ thì con cá
Cũng ngại Thủy Dương .
Thương ơi !
Gốc gác bánh canh .
Nhớ ngày cối giã .
Điệu hò khoan nhặt ,
Xót buổi chày đâm .

Em là độn
Độn ở trong tâm .
Ôm em ta dạo khắp thiên hạ .
Nay mới nhớ ra
Em độn Sầm .
(Nay em là Sầm
Tôi chưa sinh ra .
Nhưng tôi là anh .
Vì tôi chóng già .
Mà em hoài trẻ .
Em hong sương sáng .
Chói rạng sắc trời ..
Em phơi nắng mai .
Đỏ bừng hai má .
Tự em đất đá .
Tôi đành thơ ca .
Ngũ phong ôm Sầm .
Cho thơ ghen dó .
Con gió hôn vụng .
Có tôi dỗi hờn .
Vì em là sơn .
Mạng tùng bách mộc .
Tôi thì mồ côi .
Lại tích lịch hỏa .
Hóa ra hành xung
Thôi thì ta vậy .
Nhưng nhớ vô cùng )

Thủy Dương
Quê hương ngot lịm ni nờ
Răn , ri , chi , rứa
Bến bờ mô . tê .
Đường về nguồn cội .
Lối ấy sâu nông

Ở hồ làng .
Trong bào thai mẹ đã cưu mang .
Dung dị nhân duyên ta mắc nợ .
Em trong ta nở mãi không tàn .

(Hồ làng mấy nụ sen vàng .
Từ xưa chạm ngõ nồng nàn tới nay .
Ta đi
Quên hết tháng ngày .
Mà hương thơm cũ
Vẫn đầy trong ta .
Em nhân
Em nhụy
Em hoa
Dậy thì hôn ngẩu giao hòa tròn gương .
Hạt đầy những mến cùng thương .
Hạt gầy , hạt lép vô thường  có khi .
Kể từ ta bước chân đi .
Quẩn quanh em vẫn thì thầm như xưa
Em mong sáng
Em chờ trưa
Ta xa em có mong chờ Ta không ?
Còn đây dăm chữ cay nồng .
Gởi về em đó .
Ướp đông tháng dài .)

Mai kia ai nhớ .
Mốt nọ ai quên .

Một sông
Ba động
Ruột rà  .
Cái nôi của mẹ
Quê nhà  Thủy Dương .
2015 Nguyên Thông

Lễ hội kỵ chạp chi phái 24 tháng giêng Kỷ Hợi 2019

 











Tảo mộ 23 tháng giêng canh tý 2020

 Phái nhất chi nhất họ Lê Bá Thúc Qúy Làng Thanh Thủy Thượng , phường Thủy Dương , Hương Thủy , Thừa Thiên .

Thanh minh trong tiết tháng giêng .
Lễ là tảo mộ hội là gà xôi .





LỊCH SỬ XÂY DỰNG NHÀ THỜ HỌ LÊ

 I. Sơ lược sự hình thành làng Thanh Thủy Thượng

Năm 1301 Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, sang nước Chiêm Thành ngắm cảnh, có hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Mãi đến năm 1306 Chế Mân xin dâng hai châu ô và Rí (Lý) để làm lễ cưới, vua Anh Tông mới cho công chúa về Chiêm Thành. Năm sau 1307 vua Anh Tông thu nhận hai châu Ô và Rí, đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu, rồi sai quan Đoàn Nhử Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị.

Thời đó, dân Chiêm Thành sinh sống ở hai châu này rất ít, vì hai châu này là địa đầu giới tuyến thường xảy ra chiến tranh giữa Chiêm Thành với hai nước Lào Qua và An Nam. Do đó ngày nay trên địa phận hai tĩnh Quảng Trị và Thừa Thiên không có những di tích Chăm đồ sộ như ờ các tinh từ Quảng Nam đến Bình Thuận .

Cả vũng đất trài dài từ đèo Hải Vân ra tận Gio Linh toàn là rừng rậm, cây cối mọc um tùm tạo thành những truông vắng, tạo nơi ẩn cư của bọn thổ phỉ. Dân cư chỉ tập trung gần sông và đằm phá thuận tiện cho nghề nông và nghề chài lưới. Khi ông Đoàn Nhử hài dẫn quân và dân ta vào tiếp quản thi chỉ có một số gia đình thuộc các binh lính biên phòng vào theo, họ định cư và lập xóm làng  nhừng vùng thuận lợi cho nghề nông và nghề chài lưỡi.

Suốt từ đèo Hải Vân trở ra chi có một con đường mòn xuyên qua các truông cây rừng, ven đồi núi đề dân chúng đi lại và để quân linh tuần duyên.

Nhả Trần cho lập những chốt đóng quân đế trấn giữ biên giới mới, đồng thời phân bố lập làng xóm ở các nơi thuận tiện cho việc mưu sinh.

Đến năm 1527 Mạc Đăng Dung giết vua Lê Cung Hoàng vả cướp ngôi nhà Lê. Quan lại và con cháu nhà Lê, phần bị giết hại, phần thì chạy trốn tán loạn. Mạc Đăng Dung vốn con nhà nghèo, làm nghề đánh cá nhưng có sức mạnh, thi đỗ Đô lực sĩ, làm đến Đô chỉ huy sứ, triều vua Lê Uy Mục, đến đời vua Lê Tương Dực được phong là Vũ Xuyên Bá, sau vua Chiêu Tông lại phong là Vũ Xuyên Hầu. Một kẻ thất phu, ít học đạo nghĩa, một khi đã nắm giữ quyền lực lớn, tha hồ tác oai tác quái và cuối cùng giết vua để cướp ngôi! Lòng người không phục, người thì nhổ nước bọt vào mặt Đăng Dung, hoặc ném nghiên mực vào đầu y để chịu chết chứ không hàng phục y.

Lúc bấy giờ có An Thần Hầu Nguyễn Kim, một lòng trung nghĩa, chiêu mộ nghĩa sĩ bốn phương, dấy binh chống lại Mạc Đăng Dung, đồng thời tìm con cháu nhà Lê để tôn phò lên làm vua. Ông đã tìm được một người trong tôn thất nhà Lê đang lánh nạn ở Lào là Lê Duy Ninh tục danh là Chổm. Khi đó Lê Duy Ninh đang túng bần, nghèo khổ, nợ nần lút đầu vì vậy về sau có câu thành ngữ “nợ như Chúa Chổm”.

Ông Lê Duy Ninh lên ngôi, lấy hiệu là Lê Trang Tông. Khi Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm làm Thái sư, đứng đầu triều đình, thâu tóm quyền lực. Con trai trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông được tập ấm là Lăng Xuyên Hầu và được phong Tả Tướng. Nguyễn Uông là một trở lực của Trịnh Kiểm, sợ sau này sẽ mất quyền lực, nên tìm cách đầu độc Nguyễn Uông

Em trai Nguyễn Uông là Nguyễn Hoàng, rất lo âu bèn tìm đến cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) để vấn kế

Cụ Trạng, chỉ về phương phía Nam và cho lời khuyên: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng bèn nhờ chị giúp đỡ xin với anh rễ để được vào Nam trấn thủ. Trịnh Kiểm thấy trúng ý mình: cất đi một gánh nặng, một mối nguy tiềm ẩn ám ảnh y, và y nghĩ đến đất Thuận Quảng là nơi khỉ ho cò gáy, vào đó chẳng khác chi đi đầy, nên y chấp nhận ngay cho Nguyễn Hoàng vào chấn thủ Hóa Châu và Thuận Châu.

Năm Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng đem gia đình, một số quan quân thân tính cùng nhiều đồng hương Túng Sơn - Thanh Hóa và những người quý mến nhà Lê, chán ghét họ Trịnh ở ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh vượt sông Gianh tiến vào Thuận Hóa.

Nguyễn Hoàng vào đến Ái Tử (Quảng Trị) thì hạ trại, ông ra bố cáo chiêu hiền đãi sỷ, ra lệnh giảm thuế, cho dân khai hoang lập ấp. Đoàn dân di cư được bổ sung vào các cụm dân cư của hai tĩnh Quãng Trị và Thuận Hóa, các đơn vị hành chính được củng cố và phát triển. Các làng Dạ Lê và Thanh Tuyền được hình thành từ dạo đó.

Đến đời chúa Thượng Nguyễn Phúc Lang (1635) dời vào Kim Long, xây dựng thủ phủ. cònRồi đến 1754 chúa Võ Nguyễn Phúc Khoác cho dời thủ phủ chúa từ Bác Vọng về Phú Xuân. Phủ ở giữa là chánh dinh, xung quanh là các đền đài, trạng lệ nguy nga. Ngài cho xây thêm nhiều phủ khác ở Nam Sông Hương như Phú Cam, Dương Xuân

Ngày Kỷ Mùi, năm Giáp Tuất (1754) ông xưng Quốc vương, ra chỉ dụ mở rộng các đơn vị hành chánh và dãn dân ở những làng đông dân đến khai hoang lập làng mới ở những vùng còn bỏ hoang.Thời kỳ này ở đàng ngoài là thời vua Lê Hiển Tông hiệu Cảnh Hưng (1740-1788 )

Vì lý do đó mà hai làng Dạ Lê và Thanh Tuyền Dược tách thành bốn làng: Giạ Lê Chánh (còn gọi là Giạ Lê Gót ),Giạ Lê Thượng,Thanh Tuyền 1 và Thanh Tuyền 2 ,Giạ Lê và Thanh Tuyền, mỗi làng chọn từ 13 đến 15 gia đình có họ khác nhau đi khai hoang lập làng mởi cùng phụ cận Độn Sầm

Thời kỳ đó ở làng Thanh Tuyền nhìn về phía Tây thì thấy một vùng bao la,năng lát mọc xanh rì, có nơi ngập nước sâu hơn 4-5m. Chung quanh độn Sầm là lùm cây um tùm có nhiều muôn thú (mãi đến 1945,độn Sầm còn rậm rạp có khỉ ,heo rừng, cọp,beo xuất hiện)

Làng Thanh Tuyền được chọn những gia đình thuộc 13 họ dến khai khẩn từ phía Đông-Bắc và Tây đôn Sầm,lập thành Thanh Tuyền 2(sau đổi Thanh Toàn rồi Thanh Thủy Thượng ), làng Thanh Tuyền 1 thành Thanh Thủy Chánh.

Dân Giạ Lê được khai khẩn vùng Đông-Nam và Nam độn Sầm,lập thành làng Giạ Lê Thượng còn làng cũ gọi là Giạ Lê Chánh (còn gọi là Giạ Lê-Vân Thê hay Giạ Lê Gót).

Làng ta đầu tiên có 12 họ nhưng sau ngài Lê Đô truyền được 3 đời thì tuyệt tự, khi các họ truyền được 6 đời thì ngài thủy tổ họ Phạm về định cư tại làng ta lập nên họ Phạm nên làng ta vẫn có 12 họ.

Tóm lại làng Thanh Thủy Thượng được lập vào thời chúa Võ-Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) ở Đàng Trong, còn ở Đàng Ngoài là thời vua Lê Hiển Tông hiệu Cảnh Hưng (1740-1788).

II. SỰ HÌNH THÀNH HỌ LÊ (BÁ THÚC QUÝ)

Như ta đã biết,năm 1558 ngài Lê Kỳ theo đoàn quân dân cùng chúa Tiên- Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa.Có lẽ ngài Lê Kỳ phục vụ trong quân ngũ và ngài được phân bố về trấn giữ ở vùng gần Thanh Tuyền nên ngài chọn Thanh Tuyền làm quê hương mới.

Kể từ khi chúa Tiên vào đến đời chúa Võ đã hơn 200 năm, truyền được 8 đời, ngài Lê Kỳ cũng truyền được 8 hay 9 đời rồi.Do đó khi chúa Võ cho lập làng Thanh Tuyền 2 thì đa số các vị ở các thế 8,9,10 của họ Lê ta đi khai khẩn lập làng mới. Còn lại một số con dân họ Lê ở Thanh Tuyền 1 phát triển thành họ Lê ở đó.

Chúng ta có thể khẳng định như thế vì trong phổ chí chữ Hán Nôm, các ngài trong ban trị sự họ thuộc thế 10-11 đã để lại di huấn cách dùng chữ lót để đặt tên con cháu từ thế 12 trở về sau, có đề cập về đây lập làng vào thời Cảnh Hưng.

Các vị đã khai khẩn vùng phía tây đường mòn Nam-Bắc,một vùng rộng gần 2 hecta bên khe nước trong rồi dựng nhà thờ họ ở đây.Nhà thờ có khuôn viên rộng rãi, tiền đường hướng về phía tây, hữu có Thanh Long (khe nước trong )tả có Bạch Hổ (độn Sầm),xa xa có dãy độn Hoàng làm bình phong rất hợp với phong thủy.

Cuối thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp thôn tính toàn nước ta,chúng mở mang đường xá,cải tạo đường mòn Nam -Bắc thành quốc lộ 1, đồng thời xây dựng tuyến đường sắt song song với quốc lộ 1.

Đường sắt án ngữ mặt tiền, quốc lộ chặn hậu,làm cho khuôn viên nhà thờ hẹp lại, phá vở cảnh quan phong thủy của nhà thờ.

Vào thời vua Thành Thái(1889-1907),con cháu trong họ có người làm quan, như các ngài Lê Bá Đắc, Lê Bá Lao, Lê Bá Vũ... cùng các vị thân hào trong họ như ngài Lê Quý Giá đã đóng góp tôn tạo nhà thờ bằng vật liệu kiên cố:nhà rường gỗ mít ba gian hai chái, vẫn theo hướng cũ.Đồng thời di dời mộ ngài Thủy tổ Lê Cương Thiết ở Nghệ An vào để xây lăng khang trang và dần dần cải táng mộ của các ngài tử ngài Lê Kỳ trở xuống.Năm 1948-1949 theo lệnh tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh,các công trình xây dựng kiên cố như đình đài, miếu vũ bị triệt hạ để quân địch khỏi làm cứ điểm làm đồn dựng bốt gát.Do đó nhà thờ họ Lê ta,đình làng và nhà thờ các họ khác bị san phẳng.Các đồ thờ tự của họ phải đem thờ vọng ở các nhà tương đối rộng rãi còn lại.Cụ thể 3 hương án lớn gửi thờ ở nhà ông Lê Bá Tuyến, 2 hương án nhỏ và các sắc phong, phổ chí gởi nhà ông Lê Bá Cấp.

Đến năm 1950-1951,thực dân pháp chủ trương bạch hóa hai bên quốc lộ.Chúng dùng xe cày san phẳng các công trình xây dựng, bụi bờ cây cối che khuất tầm nhìn trong vòng 150km kể từ trong lòng đường quốc lộ. Thành ngoại ở lăng ngài tổ bị triệt phá từ dạo ấy, may mà không động đến phần nấm liếp của lăng, phải chăng nhờ uy linh lớn của các ngài mà chúng không dám động đến.

Thời ấy, nếu đứng ở quốc lộ ta có thể phóng tầm nhìn thẳng về Thanh Thủy Chánh. Đồng thời chúng xây dựng 6 lô cốt:lô cốt 1 ở cầu vượt, lô cốt 2 ở ga tạm sau lưng nhà thờ họ Trần, lô cốt 3 sau lưng nhà thờ họ Ngô, lô cốt 4 ở đầu đường Bến  Đá, lô cốt Độn ở độn Lăng và lô cốt Rào ở bờ sông Lợi Nông cuối đập ông Viên Thêm. Ban ngày dân làng phần đông lánh xa sông Lợi Nông để lánh Giặc và để canh tác ruộng trưa. Khi nào nghe báo <trâu ra>(giặc về lùng) thì cùng nhau chạy về Thanh Thủy Chánh hay dọc theo bờ sông về phía Giạ Lê. Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ,có lần bọn Tây về lùng đã bắn chết trâu cầy và hai vơi chồng ông Văn Nài đang gặt lúa ở đạt Tẹc cách đường bến chừng 200m.

Sau hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ(1954) mọi người trở về làng làm ăn sinh sống, xây dựng lại quê hương.

Năm 1956-1958 các vị thuộc thế 14-16 chung nhau xây dựng lại nhà thờ họ trên nền cũ. Ban trị sự họ đã truy tập các đồ thờ tự về bố trí lại nhà thờ,đồng thời cho tu dịch phổ chí từ chữ Hán -Nôm ra Quốc ngữ, việc dịch phổ chí do các vị như Lê Bá Bút, có sự cộng tác của các vị giỏi Hán như ông Phùng Hòe (Khán Hòe ) cháu ngoại của họ.

Ngài Lê Kỳ sinh được một gái bốn trai ,người con gái là bà Lê thị Khích (vợ ngài tổ họ Đặng), 4 người con trai tuần tự là:Lê Tôn Lộc,Lê Tôn Thừa , Lê Tôn Thường , Lê Tôn Hòe. Ngài Lê Tôn Lộc là tổ phái Bá , Lê Tôn Thường là tổ phái Thúc , Lê Tôn Hòe là tổ phái Quý , còn ngài Lê Tôn Thừa không có con nối dõi. Do đó họ Lê ta có ba phái, gọi theo thứ tự là nhất ,nhì, ba. Con cháu trong họ khi sinh con thì tùy tiện dùng chữ lót để đặt tên ,từ thế thứ 1 đến thế thứ 11 nhiều chữ lót được dùng như: tôn, bá ,trọng ,văn, viết, thanh...làm cho con cháu cùng họ, cùng phái không nhận ra nhau, tai hại nhất là có thể xảy ra loạn luân ngoài ý muốn vì tưởng nhầm khác họ nên lấy nhau.

Vì thế đến đời các ngài thế thuws12 như ngài Lê Bá Đắc (Án Sát An Giang) Lê Bá Lao (KInh Tượng phó vệ úy kiêm Tư Hiền trấn quản đốc phòng) cùng các vị bô lão trong hội đồng gia tộc đã ban hành khuyến cáo cách dùng chữ lót ,đại ý như sau: từ thế 12 trở về sau, phái nhất gọi là phái Bá ,(lót chữ Bá) phái nhì gọi là phái Thúc(chữ lót Thúc)phái ba gọi là phái quý (chữ lót Quý).

Tuy có khuyến cáo như thế nhưng có vài gia đình không hiểu sao vẫn duy trì cách dùng chữ lót cũ mà gia đình quen dùng(như Lê Trọng, thay vì Lê Bá...).

Danh xưng của họ Lê ta thường gọi là họ Lê Bá, người ngoài họ thậm chí người trong họ thỉnh thoảng nhầm tưởng Lê Bá ,Lê Thúc, Lê Quý là 3 họ khác nhau. Đến đời bác tộc trưởng Lê Quý Dung đề nghị lấy danh xưng của họ là Lê Bá Thúc Quý để tránh sự nhầm lẫn đáng tiếc, hội đồng gia tộc và con cháu đồng tình. Do đó từ năm 2002 họ ta được gọi là họ< Lê Bá Thúc Quý>.

Từ Năm 1958 đến năm 1974 việc cúng giổ ở họ được con cháu tổ chức chu đáo nhờ hoa lợi của các mẫu ruộng canh của họ nên chi phí kỵ chạp, tu sửa lăng mộ và nhà thờ rất thoải mái.

Từ năm  1975, ruộng canh bị sung công, mỗi năm họ được hợp tác xã nông nghiệp Thủy Dương cấp cho 300kg lúa để lo hương khói, trong thời kỳ bao cấp, mọi người dân trong làng đều rất vất vả lo cho cái ăn nên việc cúng giổ ở họ trở nên đạm bạc, chiếu lệ.

Nhà thờ họ ngày càng xuống cấp, hơn nửa nền quá thấp, nhà thờ nằm chìm sâu dưới vũng trũng giữa đường quốc lộ và đường xe lửa, nóc nhà thờ ngang với mặt đường. Con cháu đi trên quốc lộ nhìn xuống nhà thờ thì đều chạnh lòng xót xa.

Khoảng năm 1970, ông Lê Bá Cấp đã có ý tưởng vận dụng xe công binh chở đất núi lấp đầy vùng trũng để dựng nhà thờ lên trên. Ý tưởng hay nhưng thời thế không cho phép nên đành bỏ qua.

May thay, sau năm 1990, nhà nước bắt đầu thay đổi chính sách, khoán 10 cho nông dân và tiến hành kinh tế thị trường, nên kinh tế của nhân dân ngày càng sáng sủa, có của ăn của để.

Trước cảnh xuống cấp của nhà thờ họ, con cháu họ ai ai cũng mong muốn góp công ,góp của để tôn tạo lại nhà thờ.

Năm 2000, nhiệm kỳ của bác Lê Bá Giàu làm tộc trưởng, ban trị sự họ tổ chức cuộc họp đông đảo con cháu họ để bàn về việc tôn tạo nhà thờ họ. Trong buổi họp có hai ý kiến chính:

-Ý thứ nhất của nhóm người có ý tưởng thủ cựu, lấy thuyết <phong thủy> và < thiên địa nhân>, đề nghị xây dựng nhà thờ họ trên nền cũ được nâng cao và giữ nguyên hướng cũ.

-Ý thứ hai thuộc phái cấp tiến, đề nghị đắp nền lên cao ngang mặt quốc lộ và chọn hướng cho phù hợp với khuôn viên hiện hữu của khu đất.

DSC_1478

Sau khi phân tích, thảo luận:hai dường xe lửa và quốc lộ ám tiền và chận hậu làm cho nhà thờ mất cân xứng theo phong thủy. Còn theo thuyết thiên địa nhân thì có thiên thời (chánh sách cởi mở của nhà nước), nhân hòa (con cháu họ đều đồng thuận việc tôn tạo),nhưng địa bất lợi.Gia đình ông Lê Bá Nghiệp đã lập sa bàn và mô hình nhà thờ để minh họa trong buổi họp.

Kết quả,đại đa số đồng thuận theo quyết định:đắp nền lên cao, mặt tiền hướng về suối nước( hướng nam bị đài liệt sĩ an ngự).

Khi phần chính của nhà thờ được tôn tạo xong,con cháu họ đã nhiệt tình góp công góp của để xây dựng tôn tạo các công trình chung quanh, làm cho phong cảnh tổng thể của nhà thờ trở nên bề thế tôn nghiêm. Cụ thể như các công trình sau:

-Gia đình ông Lê Quý Dẫn cúng xây dựng nhà bia, cặp ngựa.

-Gia đình ông Lê Quý Dung cúng độc lư và cặp hạc.

-Gia đình ông Lê Thúc Hóa cúng xây bình phong.

-Gia đình ông Lê thúc Nguyên cúng cặp voi đá.

-Gia đình ông Lê Bá Cường cúng bộ <lỗ bộ>.

-Gia đình ông Lê Quý Chi cúng cặp mai.

DSC_1477

 

-Toàn thể phái Quý lót gạch men nhà tăng và hành lang.

Ngoài ra còn rất nhiều vị cúng các mục khác như đồ thờ, tủ kính ,cây cảnh, voi đá.

Đặc biệt nhất là cô Lê Thúc thị Lợi cúng xây dựng bốn trụ biểu và bốn sư tử đá và lát gạch bê tông sân trước nhà thờ. Cô là con gái họ mà tâm hướng về Tổ Tiên thật đáng quý, xứng với câu phương ngôn:<trai mà chi ,gái mà chi.Con nào có nghĩa có nghì thì hơn>.

Những người đáng tôn vinh nữa là các bà con dâu của họ, các bà đã tạo điều kiện thuận lợi, đắc lực cộng tác với chồng là các vị tộc trưởng, trưởng phái,thư ký,...để chăm lo chu toàn việc thờ cúng tổ tiên . Chúng ta không quên thắp nén hương lòng để tưởng nhớ công lao của các vị tiền nhân đã bỏ công lao xây dựng họ và cống hiến các vật dụng thờ tự để nhà thờ có vẻ uy nghi, trang nghiêm như ngày nay.

III. VIỆC KHUYẾN HỌC VÀ VĂN HÓA

Từ năm 1992 ông Lê Bá Vĩnh đã đề nghị ban quản tộc khởi xướng việc khuyến học. Nhưng thời kinh tế khó khăn nên việc khen thưởng cho các cháu mang tính chất tượng trưng. Đến năm 2000 bác tộc trưởng Lê Quý Dung mới cũng cố lại, đặt ra ban văn hóa Khuyến học để chăm lo việc sưu tầm lịch sử và văn hóa nhằm phổ biến cho con cháu biết, nâng cao lòng tự hào về dòng họ,đòng thời đông viên khen thưởng các cháu vươn lên tự giác học tập.Tạo điều kiện cho các cháu biết nơi thờ cúng Tổ Tiên,để sau này lớn khôn luôn luôn nhớ về cội nguồn.

Về văn hóa, thì ban văn hóa đã sưu tầm danh tính và di ảnh các vị tộc trưởng trong thế kỷ 20, việc này rất khó vì không có tài liệu ghi chép để lại, hơn nửa do hoàn cảnh chiến tranh, các tài liệu văn hóa bị mai một, cho nên ban văn hóa chỉ có thể tập hợp được danh tính và một số di ảnh của cá vị từ thế kỷ 20 đén đầu thế kỷ 21, lập thành một sơ đồ để con cháu họ chiêm ngưỡng.

Ông Lê Bá vĩnh còn có công vẽ mẫu khuôn dấu họ và tu phổ chí.

Trong nhiệm kỳ bác tộc trưởng Lê bá Giàu,có ông Lê Bá Cánh hợp cùng ban văn hóa tu phổ chí, đồng thời lập được ba cuốn phổ chí của ba phái kể từ thế 14 đến các thế 18,19.

Việc tu phổ chí cứ 3 năm thì cập nhật một lần nhưng gặp rất nhiều trở ngại. Ban văn hóa đã in ấn chỉ gởi đến các thành viên của họ ở địa phương, ngoại tỉnh và cả ở nước ngoài nhưng hồi âm rất ít nên không thể ghi chép đầy đủ được,hơn nữa thiếu điều kiện và phương tiện nên chỉ viết tay,mất thẩm mỹ. Mong rằng sau này có phương tiện và kinh phí để thực hiện in ấn để có một bộ phổ chí hoàn chỉnh từ thế thứ nhất ,để có thể lưu giữ lâu dài cho hậu thế .

Vấn đề khuyến học thì xem như họ Lê ta đi tiên phong trong các làng của huyện Hương Thủy. Ban khuyến học đầu tiên gồm:Lê Bá Lại (trưởng ban),Lê Thanh Minh Châu(phó ban và phụ trách phái Bá), Lê Thúc Trai(phụ trách phái Thúc). Lê Quý Bặm(phụ trách  phái Quý), Lê Bá Nhân (thư Ký), Lê thị Hiếu( thư Ký),Phan Thị Lãnh ( thủ quỷ). Để gây quỷ, ban khuyến học đã gởi tâm thư đến các thành viên của họ ở các tỉnh và các vị khá giả ở địa phương để vận động quyên góp. Ban khuyến học đẫ tích cực vận động nhưng quỷ rất hạn chế

Hằng năm, cứ đầu tháng 6 âm lịch ban khuyến học chia nhau địa bàn để đi quyên góp:Lê Bá Lại, Lê Bá Cánh, Lê Quý Thạnh phụ trách địa bàn thành phố huế.Lê Thị Hiếu và Lê Thúc Trai phụ trách địa bàn thôn 1,Lê Bá Nhân  và Lê Quý Bặm phụ trách thôn 2 và 3,Lê Thanh Minh Châu phụ trách thôn 4, Phan thị Lãnh phụ trách thôn Xuân Chánh.

Lễ phát thưởng đầu tiên là ngày giổ mụ,nhằm ngày 20 tháng 6 Nhâm Thìn (21-7-2000), mỗi cháu chỉ nhận được bằng khen và 10 quyển vở 100 trang mà thôi. Sau lễ phát thưởng , các cháu được ăn giổ trước, sau đó mới don cho các ông ,các bác,các chú trong họ.

Năm học 1999-2000 có 44 cháu cấp 1, 12 cháu cấp 2, 2 cháu cấp 3, và 4 cháu đổ vào đại học, tổng số 62 cháu. Số cá cháu học khá giỏi  mỗi năm một tăng , lễ phát thưởng ngày 20 tháng 6 năm Giáp ngọ (27-7 2013) số cháu được thưởng tăng lên đến 150 cháu. Một nghịch lý là hằng năm số cháu được thưởng tăng nhưng số tiền quyên góp được không tăng,mong sao các nhà hảo tâm quan tâm hơn để phần thưởng các cháu có giá trị hơn.

Trong ban khuyến học, đáng biểu dương hai thành viên nữ là Lê thị Hiếu con gái họ và Phạm thị Lãnh con dâu họ, ,rất tích cực hoạt động từ năm 2000 cho đến nay (2013).

IV. VIỆC ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA

Suốt cuộc đời từ khi trưởng thành đến 80 tuổi, đã hơn 60 năm phục vụ gia đình, xã hội,đã đóng góp nhiều công lao cho họ hàng tổ tiên. Ban trị sự họ đã nghĩ đến việc tặng một kỷ vật làm vui lòng các cụ. Nhờ sự hổ trợ các vị ở Sài Gòn do ông Lê bá Nghiệp, Lê thúc Hóa vận động tạo điều kiện để đầu xuân hằng năm tặng các cụ ông bộ khăn đóng, áo dấu đỏ, tặng các cụ bà áo dài màu xanh rêu.

Sau khi nhận khăn áo, các cụ vào dâng hương lễ bái các ngài nhân dịp đầu xuân.Đây là một nét văn hóa đặc trưng mang tính chất uống nước nhớ nguồn rất cao,có tính giáo dục đạo đức cho con cháu họ.

Bác tộc trưởng Lê Thúc Nguyên đã có sang kiến thực hiện bức ảnh toàn cảnh nhà thờ họ để tăng và truy tặng các vị cựu Tộc Trưởng, nhằm tưởng nhớ công lao đóng góp của các vị.

Ngày nay con cháu họ có tính đoàn kết, tương thân tương ái, đã có ý thức xây dựng và phát triển họ về mọi mặt, một điều rất đáng mừng!

V.VIỆC HỢP NHẤT CÁC HỌ LÊ

Sau khi ông Phan Văn Khải đề xướng việc hợp nhất các họ Phan trên toàn quốc, ông Lê Tự Đồng noi theo và đề xướng việc hợp nhất họ Lê ở Thừa Thiên Huế. Điều này rất có ý nghĩa,chúng ta đã thấy ngay trong họ ta, nếu không có khuyến cáo về việc dùng chữ lót để đặt tên con cháu thì mai sau sẽ phát sinh người cùng họ, cùng phái, không nhận biết nhau,lầm tưởng là khác họ!

Suy cho cùng thì có lẽ các họ Lê Bá, Lê Văn-Viết, Lê Diên,...đều có gốc từ thời tiền Lê(Lê Hoàn) và xa hơn nữa.

Cụ thể như họ Lê ta,khi di dân từ Thanh Hóa, Nghệ An vào Nam, luân lạc rải rác nhiều nơi. Ví dụ ở Bích La thôn Quảng Trị có họ Lê Bá (Lê bá Lan),Ở Hương Chữ ( Lê Bá Vân ,Lê Bá Nhàn), ở Phú Bài( Lê Bá Hy,Lê bá Hứa).Dưới Triều Thành Thái ông Lê bá Đắc( thế 12) thế 12 làm Án Sát tỉnh An Giang,ông được ông Tuần Vũ tỉnh đó gã con gái cho ( mặc dù ông đã có vợ con ở Thừa thiên ), một thời gian sau ông Đắc được triệu hồi về Huế, bá vợ ở An Giang không chịu cảnh vợ cả vợ bé ,bà đem con trở về quê và đoạn giao, đồng thời bà để di chúc không cho con cháu về nhập họ. Thế là sau 100 năm hình thành một họ Lê Bá ở Gò Công Đông,có dân số gần 200 người

Ngày nay thì họ Lê Bá hầu như ở khắp nơi trong nước!

Việc hợp nhất họ xem ra khó thực hiện,những người khởi xướng rất có tâm huyết nhưng lung túng trong việc làm, mang tính chất hành chánh.

Theo thiển ý, đầu tiên phải kêu gọi những người giỏi Hán Nôm, lập thành một ban sưu tra, dịch thuật nghiên cứu các phổ chí, tài liệu để lập ra sơ đồ thứ bậc của các ngài Tổ,  và mối liên hệ của các Ngài từ làng đến huyện, rồi mở rộng cả nước. Từ đó chọn họ Lê nào có vị tổ cao nhất để làm tâm điểm của làng, huyện, tỉnh ...mới thuyết phục được sự đồng thuận của các vị tộc trưởng. Sau đó lấy ngày giổ của Ngài cao nhất trong vùng làm ngày họp mặt, chiêm bái ngài Tổ của vùng ở nhà thờ họ Lê có thờ ngài Tổ đó.

Xa hơn nữa phải lần ngược dòng lịch sử để tìm ngài Tổ xưa nhất để tôn vinh thành Thánh Địa họ Lê, cho con cháu về bái tổ hằng năm!

  VI. VẤN ĐỀ PHỔ CHÍ

Nhờ có phổ chí, chúng ta mới biết được dòng tộc cội nguồn.

Tôi xin kể câu chuyện liên quan đến phổ chí để quý vị thấy phổ chí quan trọng đến bậc nào. Ông nội tôi là ông Lê Bá Bửu, sinh tiền ông thích bẩy chim cu, một hôm ông sách lồng cu mồi về tận Phú Bài để bảy. Khi ông đi ngang qua một  vườn của một nhà tranh nhỏ rách nát thì nghe con chim cu gáy rang rảng trên cây mít cạnh nhà đó. Ông dừng chân treo lồng cu mồi lên cây mít rồi vào nhà ngồi để chờ chim nhảy. Chủ nhà là một người cùng trang lứa với ông nội tôi, rót nước chè mời, rồi ông lấy bao thuốc vấn ra mời ông tôi hút. Ông tôi thấy tờ giấy vấn thuốc là giấy bồi cũ có chữ Hán. Ông tôi tò mò hỏi giấy vấn thuốc xé ở đâu? Ông chủ nhà bèn thổ lộ: cha tôi có để lại một cuốn sách viết chữ Hán, tôi không biết chữ Hán , thèm thuốc mà kẹt tiền mua giấy nên tôi xé ra để vấn! Ông nội tôi cầm phần còn lại của cuốn sách để xem thì hóa ra là cuốn phổ chí và mới biết ông chủ nhà thuộc cùng họ Lê ta, phái Quý, tên Th...

Thấy ông ta cực khổ nên đề nghị ông ấy đem vợ con lên làng mình để ông giúp đỡ nơi ăn chốn ở và công việc làm ăn. Ông ta đã theo ông nội tôi dời lên và sinh sống ở làng ta từ dạo đó.

Nếu không nhờ cuốn phổ chí thì ông Th..sống cô đơn nơi xa lạ và về sau con cháu chẳng biết gốc gác đâu mà lần !

Việc dịch phổ chí ra quốc ngữ của họ ta có lẽ bắt đầu từ năm 1958 do các ông Lê bá Bút và ông Phùng Hòe. Sau đó việc tu phổ chí được ấn định cứ 3 năm bổ sung một lần.

Mỗi lần tu phổ chí gặp rất nhiều trở ngại, ví dụ thời ông Lê Bá Cánh làm trưởng ban trị sự, chúng tôi đã in ấn sẵn,gởi đi các nơi để ghi tên, ngày sinh ...con cháu chưa ghi vào phổ chí, nhưng đợi mãi không có hồi âm.

Các tập phổ chí của họ hiện nay, được viết tay , không được mỹ thuật và không được gọn gàng. Chúng tôi đề nghị ban trị sự họ vận động để có quỷ in lại toàn bộ phổ chí thành một tập hoàn chỉnh để lưu giữ được lâu dài. Hơn nữa có thể in nhiều tập để con cháu ai có nhu cầu thì thỉnh về để lưu giữ và hoàn lại tiền in cho họ làm quỹ khuyến học.

Nhân việc cộng tác tu phổ chí với ông Lê bá Cánh, tôi có dịp tiếp cận với phổ chí của họ và đọc được bài dịch khuyến cáo  về cách dùng chữ lót như sau:

DI HUẤN ĐỜI THỨ 12

Nước có nguồn, cây có gốc

Sanh người đời có gia tộc tổ tiên

Quận Kinh Triệu , phước thiêng liêng

Giữ gia phổ, chép biên làm đầu

Ngài Thủy Tổ , Hoàng Công Hầu

Cảnh Hưng lánh nạn bắt đầu về đây

Khai canh mở rộng chốn này

Kiến dân lập xã, hiệu danh Thanh Tuyền

Bốn trai một gái nối truyền

Tôn Thừa kế trưởng, hiếm quyền hậu lai

Trông chờ Cao Tổ ba ngài

Sanh sanh ,hóa hóa, số ngoài hằng sa

Bước qua thế thứ mười hai

Lão thành khoa mục chung vai luận bàn

Chia phái thuộc nhất nhì ba

Trên hòa dưới thuận phước nhà làng lai

Nhất Bá, nhì Thúc, Quý ba

Phân ra trên dưới tộc nhà vẻ vang

Thế thứ danh vị rõ ràng

Ngàn năm un đúc gương vàng để soi

Đồng sanh chung một giống nòi

Hán văn liệt tả chiếu soi phổ nhà

Bây giờ Khổng học lu lòa

Phòng khi tra cứu: người vấn xà? kẻ đáp long?

Việt ngữ nay đã phổ thông

Hội đồng bổn tộc tập trung làm liền

Tinh châu cốt cách lưu truyền

Mưa Âu, gió Á không phiền đợi ai

Phổ nhà chép để lâu dài

Không lầm, không trái, không sai, không ngờ

Đời đời kế thứ phụng thờ

Ngàn năm mục lục trơ trơ vẫn còn

                                                                         Tháng Mười, năm Kỷ Hợi 1959

                                                                         Phỏng dịch

Đọc qua bản di huấn, lúc đầu tôi ngỡ rằng Ngài Tổ Lê Kỳ thuộc tôn thất nhà Lê nên được phong tước Hầu và là một vị tướng:Phụ Quốc Tướng Quân. Sau bác Lê Quý Ngưu nói: chức tước đó là do nhà Nguyễn truy phong (?).

Đối chiếu với sử liệu thì việc lập làng Thanh Thủy Thượng vào thời đại vua Lê Cảnh Hưng nên câu thứ sáu dùng chữ " lánh nạn "e không chỉnh mà dùng chữ triều đại thì hơn.

"Cảnh Hưng triều đại bắt đầu về đây"

VII. NGHI VẤN VỀ THÂN THẾ CÁC NGÀI TỔ

Lần ngược thời gian ,ta đoán được ngài Lê Kỳ sinh trong khoản 1510 đến 1520 và ngài Lê Cương Thiết sinh trong khoảng 1465 đến 1485, ngài có thể sống qua nhiều triều đại từ Lê Hiến Tông (1497- 1504), Lê Túc Tông (1504 ), Lê Uy Mục (1505-1509 ), Lê Tương Dực (1510-1516), Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng(1516-1527)?

Thời phong kiến, quan lại mới gọi con gái là quý nương , con dân dã thì dùng chữ " thị", ví dụ cùng tên là Hồng thì con quan gọi là " Hồng quý nương" con dân thường gọi là "thị Hồng" . Quan niệm môn đăng hộ đối rất nặng nề nên ta suy đoán :ngài Lê Cương Thiết phải là con quan hay bản thân ngài là ông quan, vì vợ ngài có danh xưng là "Từ Huệ quý nương"?

Không biết ngài Lê Cương Thiết có bao nhiêu người con? Tộc phổ chỉ ghi khởi tổ là ngài Lê Cương Thiết và thế thứ nhất là ngài Lê Kỳ và tiếp theo mà thôi.

Ngài Lê Kỳ có vợ là bà Trinh Thục quý nương ,ngài sinh ra vào khoảng 1510 đến 1520 so với chúa Nguyễn Hoàng thì ngài Lê Kỳ lớn tuổi hơn ( năm 1558, Nguyễn Hoàng 34 tuổi). Từ đó ta có thể suy đoán ngài lê Kỳ làm quan dưới triều vua Lê Trang Tông và có thể ngài thuộc tôn thất nhà Lê nên mới được vua phong chức Phụ Quốc tướng quân và tước Hoằng Cung hầu. Có lẽ vì chán ghét sự chuyên quyền của Trịnh Kiểm mà ngài theo chúa Nguyễn Hoàng vào Nam chăng?. Chức tước ghi trong sắc phong của vua nhà Nguyễn có thể là nhắc lại chức tước cũ của ngài để truy phong.

Nay ta biết có nhiều địa phương có họ Lê Bá, ta có thể suy ra hai khả năng về gốc gác, mối liên hệ của các họ Lê đó với họ Lê của ta theo một trong hai giả thiết:

1. Ngài Lê Cương Thiết có anh em trai.

2. Ngài Lê Cương Thiết có vài con trai ngoài ngài Lê Kỳ lúc di dân, các ngài đó cư trú ở các địa phương khác.

Mong rằng sau này có sự giao lưu giữa các họ Lê nhất là các họ Lê Bá ở các địa phương để tìm hiểu và giải đáp các nghi vấn này.

VIII. VIỆC BẦU TỘC TRƯỞNG VÀ BAN TRỊ SỰ

Ban trị sự họ gồm: tộc trưởng, thư ký, thủ quỹ và ba trưởng phái. Nhiệm kỳ của ban là ba năm, được bầu luân phiên theo ba phái. Cuối nhiêm kỳ của ban trị sự phái trước thì phái tiếp theo sẽ hợp thương trong phái để chọn 1 hoặc 2 người giới thiệu cho hội đồng gia tộc để bầu vị tộc trưởng mới.

Tiêu chuẩn của người được chọn: có uy tín trong xã hội, vợ chồng song toàn, còn khỏe mạnh và nhiệt tình tham gia việc họ hàng.

Thư ký và thủ quỷ do vị tộc trưởng mới cùng với các vị trưởng phái chọn.

I X. CÁC NGÀY HÚY KỴ

Việc kỵ giổ được thu gọn trong ba ngày lễ chính:

1. Lễ Tết: để con cháu đến lễ bái mừng tuổi với tổ tiên.

2. Lễ kỵ ngài Khởi Tổ: Nhằm ngày 10 và 11 tháng 11 Âm lịch. Đồng thời tổ chức tảo mộ để con cháu viếng lăng mộ Tổ Tiên.

3. Lễ kỵ Mụ và hiệp kỵ:nhằm ngày 19 và 20 tháng 6 Âm lịch. Đây là ngày tưởng niệm Bà đã cống hiến 5 mẫu ruộng canh cho Họ và tưởng niệm tất cả các vị đã có công lao xây dựng Họ.

Nhân dịp này Họ phát thưởng cho các cháu học giỏi.

X.VIỆC GÂY QUỶ HƯƠNG HỎA VÀ KHUYẾN HỌC

Theo quy định của hội đồng gia tộc, mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi thanh niên và trung niên có nghĩa vụ đóng góp tiền hương hỏa và tiền khuyến học, mỗi năm 50.000đ (30.000đ tiền hương hỏa, 20.000đ tiền khuyến học).

Hằng năm các trưởng chi chạp trích tiền chạp của chi để nộp lại cho thủ quỷ của Họ.

Ngoài nghĩa vụ đóng góp, có nhiều vị hảo tâm còn ủng hộ thêm số tiền lớn vào quỷ khuyến học. Ban trị sự tổng kết tiền để gởi ngân hàng, chỉ giử lại một ít để chi cho các việc bất thường.

                                                                                          Mùa thu năm Quý Tỵ 2013

Lê Bá Lại  ( thế 16 )